Và như thế ta sống vui từng ngày...
Phương Xích lô

Nhắc tới nhà thơ điên Phạm Phú Hải , chợt nhớ cũng gần tới ngày giỗ cùa nhà thơ nghèo Phương xích lô , post bài này để các bạn hiểu thêm về nhà thơ này
Cay đắng cuộc đời một nhà thơ đường phố
blog Ngô Minh
Người ta bảo: “Huế là đất thơ” quả không ngoa. Sinh thời, nhà thơ Phùng Quán thường khoe: “Huế tôi cứ 10 người thì có 11 người làm thơ, vì một người say thơ gấp đôi người khác”. Riêng giới xích lô đã có hai người làm thơ. Đó là Phương xích lô và Mẫn xích lô...
Đầu tháng 6 năm 2007, sáu năm ngày giỗ Phương (02/06) có một diễu hành hoành tráng và ấn tượng của 300 chiếc xích lô ba miền hội tụ về Huế, mà tôi muốn kể về một “công dân xích lô ”thứ thiệt”, một “thi sĩ xích lô thứ thiệt”: Đó là nhà thơ Nguyễn Văn Phương, tức Phương xích lô.
Anh mất đã 6 năm rồi, nhưng trong Lễ hội xích lô Huế vừa qua, hình bóng anh lại hiện diện rất đậm nét.
Trong Lễ hội xích lô mọi người bắt gặp những chiếc xích lô trùm kín nilon, mang những tấm biển có đề những câu thơ rất hay của Phương viết về nghề đạp xích lô, mà dân xích lô Huế ai cũng thuộc, như:
“…Làm tên phu xe qua ngày tháng
Chở bao tiếng khóc lẫn nụ cười...…
Đôi khi vắng khách về chở gió
Không tiền không bạc vẫn cười vang
Dừng lại bên cầu nghe nước chảy
Chợt thấy mình một giọt nước Hương Giang”
(Giọt nước Hương Giang)
hay Gác cẳng chờ hàng bên bãi vắng...…
Những câu thơ một thời ám ảnh người Huế, lại hiện lên đúng vào ngày mất của Phương (2/6), làm mọi người càng ngậm ngùi nhớ chàng xích lô thi sĩ…

Chân dung nhà thơ Phương xích - lô
Riêng giới xích lô đã có hai người làm thơ. Đó là Phương xích lô và Mẫn xích lô. Mẫn xích lô tên thật là Phạm Huy Ngữ, năm nay quá ngũ tuần rồi vẫn ngày đêm còng lưng trên ba bánh xe lăn. Anh nghèo tới độ, làm thơ nhưng không có giấy, phải xé trộm vở học của con. Viết được vài ba bài thơ ngắn, vội đưa cho báo tỉnh in để kiếm ba bốn chục ngàn một bài về mua cho con cuốn vở mới.
Hồi tôi được báo Thừa Thiên Huế mời biên tập “Trang thơ cuối tuần”, hễ gặp tôi trên phố là Mẫn nhảy xuống xe, kéo cái bánh sau xích lô giơ lên chỉ chỉ: “Lốp mòn rồi, Ngô Minh ơi, in cho em mấy bài để thay lốp mới nghe”.
Trời đất ơi, người làm thơ ở Huế đông như “quân Nguyên”, làm sao mà in liên tục cho Mẫn được! Mới tuần rồi, gặp tôi ở cửa Hội Văn nghệ, Mẫn lại níu tay bảo.
Công tâm mà nói thơ Mẫn xích lô in được, có nhiều ý thơ thật mà cảm động. Nhưng thơ Phương xích lô mới là thơ hay thứ thiệt. Mà tính cách của Phương cũng lạ lùng lắm…
Mọi người biết Phương xích lô chứ ít người biết tên thật của anh. Người ta biết anh vì thơ anh hay, vì cuộc sống anh có lắm điều kỳ dị, kỳ quái, kỳ lạ.
Có người giận anh, rồi lại thương. Có người giận rồi xa lánh, hắt hủi. Tất cả bắt đầu từ sự say thơ, từ cú xốc đau đớn của số phận người đạp xích lô tài hoa, tài tử này.
Cách đây khoảng hơn 20 năm, hồi Tạp chí Sông Hương còn đóng gần cửa Thượng Tứ, một buổi sáng, có một chàng trẻ, đẹp trai, đạp chiếc xích lô đến toà soạn, rụt rè gửi lại mấy bài thơ chép trên những trang vở học trò nhàu nát, không đề bút hiệu, địa chỉ.
Nữ thi sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ lúc này là biên tập thơ, hỏi tên thì chàng xích lô nói vọng lại: ”Em là Phương, dân xích lô”. Mỹ Dạ đọc thơ thấy hay, liền đề nghị in, ghi tên là Phương xích lô.
Thế là bút danh Phương xích lô lần đầu tiên xuất hiện trên một tạp chí danh giá của làng văn. Một lần Phương được bạn bè bao ra Hà Nội, đi đâu Phương cũng đi bằng xích lô.
Phương đạp thay cho những bác xế già. Thế là Phương có thơ: ...Bác chở tôi một lần rồi quên lãng/Nhưng riêng tôi chở bác suốt thời gian (Thơ gửi bác xích lô Hà Nội).
Còn dân xích lô Huế ai cũng thuộc một vài bài hay vài câu thơ của Phương: Ta xích lô hề/Người xích lô/Ráng cho xong hết một đời phu/Chở bao đau thương về nghĩa địa/Chở những hạnh phúc đến tuổi thơ/Ngó xuống thua chi loài giun dế/Trông lên hơn hẳn lũ công cò…(Xích lô hành).
Word Cup France 98, báo Văn nghệ Trẻ thi thơ ngắn về bóng đá. Phương có bài thơ tứ tuyệt Đá bóng giành giải thưởng:
Em đá vào ta một trái buồn
Còn ta đá lại trái cô đơn...…
Năm 1998, báo Văn TP Hồ Chí Minh thi thơ lục bát, bài thơ Tím của Phương đã được ban giám khảo xếp giải:
Trưa nay chợt nhớ trưa nao
Trước/Nhà em/Tím/Một màu băng lăng
Ai trồng rào dậu cản ngăn
Cho chúng mình/Tím/Vết hằn chia ly...…
Năm 1992, Phương xích lô được bạn nghề góp tiền giúp anh in tập thơ Những dòng sông (in chung). Từ đó anh trở thành hội viên thơ của Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế.
Trên xích lô của Phương bao giờ cũng nhét một cuốn vở học trò màu cháo lòng và cây bút bi. Khi nào tứ thơ chợt đến là Phương dừng xe bên đường cắm cúi viết.
Có lần gặp nhà thơ Phùng Quán từ Hà Nội vào, Phương mời anh Quán lên xe để vừa đi ngắm Huế vừa nghe thơ xích lô. Một ông già áo Mán, quần bò, râu tóc bạc phơ, một chàng trai tóc xoăn khôi ngô, quần sờn áo vá, vừa đạp xe xích lô vòng vèo phố Huế, vừa thay nhau đọc thơ sang sảng.
Dân qua đường ai cũng ngoái nhìn. Nhiều anh xe thồ, xích lô cũng nối theo để nghe thơ như một đám rước, quên cả đón khách. Đến chiều mới hay, cả ngày Phương chưa có được cuốc xe nào kiếm tiền cả.
Anh Quán nằn nì Phương nhận ít tiền đưa về cho vợ, Phương bảo: “Anh còn khốn khó hơn em. Khốn khó tới 30 năm. Tiền đâu ra mà đưa cho em…”.
Nhiều nhà thơ ở Huế có bạn thơ ở xa tới thăm đều nhờ Phương chở đi chơi phố Huế. Đi xích lô với Phương rất vui vì chủ khách đều như người nhà, đọc thơ rồi cười ha hả.
Có một lần, Phương chở một ông khách du lịch người Sài Gòn đi thăm lăng tẩm Huế. Thấy Phương đạp xích lô lên dốc mệt, ông khách liền nhảy xuống, cùng đẩy.
Thấy dáng Phương mỏi, ông khách bảo Phương ngồi lên xe để ông đạp thay. Phương đã làm thơ về sự gặp gỡ cảm động đó. Bài thơ có đoạn kết thấm thía tình người :
Khi chia tay anh mời tôi đi nhậu
Nổi hứng lên tôi đọc tặng bài thơ
Đời có lúc không cần đeo mặt nạ
Anh mỉm cười: “ Ở Sài Gòn mình cũng xế xích lô !”
Ngoài nghề đạp xích lô, vì cơ thể đàn ông đẹp, nên Phương thường xuyên được trường Đại học Nghệ thuật Huế mời làm người mẫu cho sinh viên học sáng tác.
Cứ đứng một buổi được mấy chục ngàn, tuy có “nhột” chút đỉnh, nhưng không mồ hôi mồ kê như đạp xích lô. Có tháng Phương một buổi đạp xe, một buổi làm người mẫu, để có thêm tiền nuôi con.
Những ngày đó Phương ở gần nhà tôi, ngay trên dốc Bến Ngự. Phương có hai đứa con gái sinh đôi rất kháu khỉnh…
(By PLH: Phương tự giới thiệu về mình:
Tám mươi kiệt một tại đường Chi Lăng
Vợ tôi Trần Thị Lệ Hằng
Đầu lòng sinh được hai nàng xinh xinh”.)
Cuộc đời Phương đang êm đềm “trên ba bánh xe lăn”, bỗng gặp một khúc quành đến vực thẳm chết người. Phương có một người bạn thơ rất thân. Anh bạn hay đến nhà cùng Phương ngâm ngợi, chén tạc chén thù.
Vợ Phương có tài đàn tranh. Phương làm thơ tặng vợ:
Đưa ta bay lên tận cung Hằng.
Thế rồi người vợ mà Phương vô cùng yêu dấu, bỏ Phương, theo người bạn thơ ấy.
Nàng quyết liệt đòi Phương phải chia tay. Thế là Phương lủi thủi đạp xích lô về ở với mẹ ở phố Chi Lăng. Từ đó, ngày nào Phương cũng đạp xích lô đến thăm con, chở chúng nó đi ăn chè, ăn kem.
Chia tay con, Phương lại về chỗ tôi uống rượu và khóc. Phương uống rượu vì buồn tủi, vì thương, vì giận. Phương bắt đầu nát rượu từ đó. Phương không đạp xích lô được nữa.
Thế rồi người vợ đi theo chồng mới vào Nam, mang hai đứa con gái của Phương gửi vào tu trong một ngôi chùa ở Đồng Nai (bây giờ hai đứa đã thành ni cô).
Biết là vợ con đã xa ngàn dặm, thế mà ngày nào cũng đạp chiếc xe đạp cà tàng lên thăm lại hình bóng người thân nơi ngôi nhà xưa, rồi vào quán.
Có lần có đứa bé cạnh nhà tôi, hốt hoảng chạy vào lay vai tôi: “Bác Ngô Minh, cái chú gì mà hay vào nhà bác bị ngã trên đường tàu ngoài kia kìa!”.
Tôi chạy ra, hoảng hốt thấy Phương đang nằm vắt ngang đường tàu hoả, chiếc xe đạp đè lên người. May chưa có chuyến tàu nào đi qua. Tôi đỡ Phương dậy, dìu vào nhà.
Có lần đang đêm khuya khoắt, tôi đã ngủ say, bỗng nghe có tiếng ai gọi như từ âm phủ vọng lên: “Ngô Minh ơi…ơi!”. Tôi nổi da gà, ngỡ là “ma”.
Định thần, mở cửa thì thấy Phương say đang ngã nhào trước cổng nhà tôi. Thì ra, Phương nhớ con, nhớ vợ, đang khuya cũng ngất ngưởng mò lên thăm lại chốn xưa!
Từ đó Phương như một người điên, đi lang thang ăn mày rượu của đời. Thấy ai quen trên phố, Phương giang tay chặn xe: “Cho Phương xin hai ngàn!”.
Chỉ xin 2 ngàn, đủ cút rượu thôi. Cho nhiều Phương trả lại. Nhiều lần trong vô thức rượu, Phương tưởng mình đang làm người mẫu, liền cởi quần áo, đứng như người khoả thân ở ngã tư đường phố.
Phương không chỉ “khoả thân” với Huế, mà còn “khỏa thân với Tây Nguyên”.
Nhà văn Tô Nhuận Vỹ kể với tôi, thời anh làm Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh, đang đêm, anh bỗng nhận được một cú điện thoại từ thị trấn Buôn Hồ, Đắc Lắc hỏi: “Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế có ai tên là Phương xích lô không?”.
Anh Vỹ tưởng có chuyện gì nguy cấp, hỏi mới hay Phương đang “làm người mẫu” ở giữa phố huyện Buôn Hồ, liền bị dân phòng phạt. Hỏi tên chi: Phương say líu lưỡi: “Tôi là Phương xích lô, nhà thơ ở Huế”. May cái ông dân phòng ấy cũng là một người Huế đi kinh tế mới.
Vì sự đó, bản thảo tập thơ “Giọt nước Hương giang” của Phương nhà xuất bản từ chối cấp giấy phép. Nhiều người ghét bỏ, xa lánh Phương.
Còn với ai hiểu cảnh ngộ của Phương đều ứa nước mắt. Phương chỉ dở điên dở dại khi uống rượu. Còn khi làm thơ thì Phương lại trở lại là Phương xích lô dân dã, tinh tế và bản lĩnh.
Có dịp tôi đang làm trang thơ Tết cho báo Thương mại, Phương tìm lên nhà tôi, đưa tôi ba bài thơ chép nguệch ngoạc trên vỏ bao thuốc lá Đà Lạt, bảo: Thơ em không hay thì anh vứt đi!
Thơ của Phương làm trong thời gian cuối đời, đầy men rượu, nhưng cũng đầy đớn đau thân phận:
Thưa em
Tôi đã khuyết rồi
Đêm nao chú Cuội khèo rơi trái rằm
(Thưa em).
Hay:
Ta say hề, đêm nay ta xỉn
Đành mượn cỏ cây thế chiếu giường
Ngạo nghễ gối đầu lên đỉnh Ngự
Ngang tàng xuôi cẳng dọc sông Hương
(Tuý độc hành).
Trong bài thơ Tự trách, Phương tỉnh táo trách mình:
Chưa làm chi được cho đời
Ngoài những vần thơ vớ vẫn
Thôi mau chết quách cho rồi
Sống lâu chân đạp nhớp đất
Sống lâu đầu đội dơ trời...…
Ôi, Phương xích lô, thi sĩ đầy tư cách công dân, khẩu khí tựa như Nguyễn Công Trứ. Thơ như rứa không thể nói là Phương điên được!
Ngày 2 tháng 6 năm 2001, Phương xích lô ra Thành cổ Quảng Trị thăm mẹ nhà thơ Nhất Lâm đang ốm nặng.
Phương thấy trẻ con đang tắm trần truồng dưới mương Thạch Hãn. Thích quá, không biết mình đang ngất ngưởng rượu, Phương cũng nhào xuống tắm. Thế là Phương đi vĩnh viễn…!
Trong cái túi xách cà tàng Phương để lại trên bờ có một vỏ chai đã khô rượu và hai bài thơ mới viết. Trong đó bài thơ Chạng vạng như là một lời cuối cùng:
Chạng vạng đất
Chạng vạng trời
Tình tôi chạng vạng trong thời xa em
Mắt nhìn
Chạng vạng hơi men
Miệng đời chạng vạng
Chê khen tiếng lời
Tuổi tên chạng vạng
Quên rồi
Đường đi chạng vạng
Biết nơi mô về...
Những câu thơ linh ứng như Phương biết trước cuộc ra đi của mình. Thơ Phương tiên tri
Mình sống lang thang chẳng cửa nhà
Chết không đất táng làm ma phiêu bồng...
Nhưng đám tang Phương, bạn bè văn nghệ Huế, Quảng Trị, Sài Gòn, mỗi người một tay, lo vô cùng chu đáo. Cũng có xe tang cờ xí đỏ xanh như người, cũng có tiền âm phủ rải bố thí dọc đường đời.
Ban quản lý nghĩa trang thành phố Huế cho Phương một đám đất cạnh đường. Bạn bè xây mộ hoa sen. Các nhà thơ Huế còn khắc chữ thư pháp bài thơ Thiên thu ca lên một phiến đá hoa cương cao do một xưởng cưa xẻ đá tặng, dựng ngay đầu mộ.
Năm nào đến ngày giỗ Phương anh em bạn thơ lại lên mộ thắp nhang, đọc thơ, rồi tưới rượu Chuồn ngon nổi tiếng xuống mộ Phương, như là Phương vẫn còn bên họ.
Các nhà thơ Phạm Nguyễn Tường, Nhất Lâm, Lương Ngọc An (Hà Nội), Hải Trung đã tận tuỵ sưu tập bài vở, chạy giấy phép in cho Phương tập thơ Chở gió.
Năm nay nhà văn Nhất Lâm đã tập hợp và biên soạn xong bản thảo tập sách dày dặn “Nguyễn Văn Phương - Thơ và đời”, tập hợp những bài viết về Phương và toàn bộ thơ Phương, như là kỷ vật còn lại của Phương xích lô với cuộc đời.
Và đầu tháng sáu này, Phương lại hiện hữu cùng những người đồng nghiệp của mình trong Lễ hội Xích lô nước Việt…Tôi như thấy hồn thi sĩ Phương xích lô lại về chở gió… (dữ liệu blog Ngô Minh)
Thơ Phương:
GIỌT NƯỚC HƯƠNG GIANG
Hạt muối hòa tan trong ly nước
Tôi cũng hòa tan giữa cuộc đời
Làm tên phu xe qua ngày tháng
Chở bao tiếng khóc lẫn nụ cười
Vắng khách đôi khi về chở gió
Không tiền, không bạc vẫn cười vang
Dừng lại bên cầu nghe nước chảy
Chợt thấy mình: một giọt nước Hương Giang.
CHÂN DUNG TỰ HỌA
Ngồi buồn
vẽ cái thằng tôi
Thằng tôi vô định
mấy thời tỉnh điên
Tục chẳng tục
tiên không tiên
Lúc vui xuống phố
khi phiền lên non
Trang thơ mấy chữ cỏn con
Chảy bao năm tháng chưa mòn gian nan
Anh em bốn bể cưu mang
Chén cơm manh áo - cơ hàn cũng qua
Sống lang thang chẳng cửa nhà
Chết không đất táng làm ma phiêu bồng
Ra đi có
Trở về không
Những gì lỡ mượn
Trả cùng một giây.
GIẾNG TRONG QUÊ NHÀ
Cây khô
Chờ đợi giọt mưa
Tôi khô
Chờ đợi giọt thơ dịu dàng
Giữa trời đổ nắng chang chang
Đi trong sa mạc dối gian lọc lừa
Quý từ lời nói đơn sơ
Không ma mị
Chẳng đẩy đưa qua về
Đến trong tận tấm lòng quê
Bao giờ cũng giữ lời thề thủy chung
Đã qua sông tận núi cùng
Về bên em
Uống
Giếng trong quê nhà...
THANH BÌNH
Ngã người
Trên chiếc xích lô
Lắng nghe
Bao tiếng xô bồ
Vây quanh
Nhìn lên
Một mảng trời xanh
Thấy mình
Còn chút thanh bình
Trong tâm.
BỌT
Nhìn bọt bia sủi tràn trên miệng ly
Tôi nhớ đời tôi đã bao lần sủi bọt
Bọt bia trắng xôn xao như sóng vọt
Bọt đời tôi vàng võ tựa trăng khuya
Giữa trưa hè khao khát một ly bia
Đêm đông giá lại thèm cốc rượu trắng
Đời có lúc ngồi trong lòng cay đắng
Đánh thức mê lầm
Dù có xót xa
Nhạt nhòa dần
Lời tán tụng ba hoa
Rồi bọt đời
Theo bọt bia tan loãng.
GÁNH NƯỚC
Nửa khuya
Gánh nước dưới trăng
Hai thùng
Mơ
Thực
Thăng bằng trên vai
Có trăng
Đêm cũng như ngày
Có thơ
Bể khổ cũng đầy niềm vui.
Trần Thị Thuý Nga @ 09:33 24/02/2013
Số lượt xem: 1495
- Quan niệm về rắn ở các nước phương Đông (10/02/13)
- "Bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời" (19/11/12)
- Yếm thắm trôn kim (18/10/12)
- Hoa trang trí phòng ngủ (15/10/12)
- Thơ yết hậu và thơ triệt hạ (14/10/12)
Phương Xích Lô - Qua đò tháng chạp
Ta đưa em qua đò tháng Chạp
Chiều nay hoa trắng rụng bên sông
Hoa có rụng mới biết đời dâu bể
Tình có xa rượu chuốc mới nồng.
Đi đi thôi, hỡi người yêu dấu
Mà chiều kia xám cõi trời tây
Dường như có cánh chim lẻ bóng
Bay giữa trời lộng tiếng heo may.
Còn gì không? Ừ, chẳng còn gì!
Nhớ gì không? Ồ, nhớ mà chi?
Có chăng mưa tạt bên bờ vắng
Hay buồn tình sông hát khúc phân ly.
Trong mắt em sầu lên tan tác
Người yêu ơi ngày mai xa rồi
Hát cùng ta hỡi người yêu dấu
Khúc tình sầu cho bạt tiếng mưa rơi.
Ta vẫn sống trọn đời trong hiu quạnh
Cây vườn ta vẫn rụng trái tình không
Những hoa trắng tay hồng em ve vuốt
Sưởi hương lòng mỗi tối mùa đông.
Còn gì không, hỡi chiều tắt nắng
Mắt của em, ta chưa uống đã nồng
Thì nói chi những ngày mưa tới
Ta một mình chuốc rượu với mênh mông!
Có thể nói bài thơ này cũng là bước ngoặt rất lớn trong đời của Phương, một niềm vui nhỏ nhoi trong một gia đình bình dị, có tiếng cười trẻ thơ, có tiếng thánh thót của giọt đàn tranh say đắm của người vợ, người mà đã khiến Phương tỏ tình bằng cách chặn xe quỳ lạy, và trong những lần rung cảm đó Phương cũng từng thốt lên rằng:
Xích lô anh chở, đàn này em ngân.
(Tiếng đàn đêm Nguyên Tiêu)
Thế nhưng mọi sự đâu như ước nguyện, nàng Hằng của Phương cuối cùng cũng dứt áo ra đi cùng hai đứa con nhỏ, bỏ lại Phương với nỗi cô đơn tột cùng. Sự tan vỡ của một gia đình chúng ta chỉ là kẻ bàng quan cũng chẳng nên phán xét làm gì.Trong nỗi cô đơn tột cùng, Phương đắm chìm vào trong men rượu, và người tri kỷ của Phương không ai khác chính là Nàng Thơ:
“Em đến với ta trong thời lãng đãng
Khi em mơ mộng
Không nghĩ gì tiền
Qua bao năm cọ xát cùng cơm áo
Em bảo ta chính hẫu
Một thằng điên
Thế là em lôi ta
Như lôi một con trâu
Ra tòa ly dị
Tình yêu ta gặp buổi thiên tai
Trong khổ đau thơ ta càng vút dậy
Em bỏ ta…
Ta bỗng hóa thiên tài.”
(Thơ đọc trước tòa)
Từ đó người ta thấy Phương nhàu nát hơn, xộc xệch hơn…Nhưng thơ lại vút cao và thống thiết hơn.
Thơ Phương càng về sau là một chuỗi trãi nghiệm đắng cay cho thân phận, những vị mặn của mồ hôi và nước mắt thấm đẫm lên từng trang giấy, và trong sâu thẳm kia phải chăng là vết thương lòng nhỏ giọt dài trên những vòng xe lăn qua cuộc đời Phương?
Chiều nay hoa trắng rụng bên sông
Hoa có rụng mới biết đời dâu bể
Tình có xa rượu chuốc mới nồng.”
Trong một ngày giáp Tết nôn nao, thế mà sao lòng nghe mặn đắng. Hình ảnh những đóa hoa trắng kia không còn được trinh nguyên nữa, thay vào đó là một sự chia ly nghẹn lòng. Sự tàn phai của một mối tình cũng giống như những cánh hoa rơi rụng, hờ hững hay dằn xé đều là do cảm nhận riêng lẽ đời thường. Chuốc chén rượu nồng khi tiễn biệt một mối tình tưởng chừng như đã keo sơn, liệu rằng có vơi đi không Phương ơi?
Mà chiều kia xám cõi trời tây
Dường như có cánh chim lẻ bóng
Bay giữa trời lộng tiếng heo may.”
Sự hào sảng trong người Phương lúc nào cũng có, cô đơn đấy, thê lương đấy. Thế nhưng! Anh vẫn cố tỏ vẻ ung dung. Dẫu biết rằng sự tan biệt này là vĩnh viễn, nơi góc trời kia chỉ còn lại một cánh chim lạc loài, cô độc. Còn đâu nữa Phương!
Đưa ta bay lên đến tận cung Hằng
Nay đã tắt giữa chợ chiều huyên náo
Quả ma nào che lấp một vầng trăng?”
(Xin lại)
Và trong giây phút ấy người bàng hoàng tự nhủ:
Nhớ gì không? Ồ, nhớ mà chi?
Có chăng mưa tạt bên bờ vắng
Hay buồn tình sông hát khúc phân ly.
Trong mắt em sầu lên tan tác
Người yêu ơi ngày mai xa rồi
Hát cùng ta hỡi người yêu dấu
Khúc tình sầu cho bạt tiếng mưa rơi.”
Ừ, thì chẳng còn gì Phương nhỉ? Những nhớ mong bây chừ cũng chẳng còn mang một ý nghĩa nào hết. Một sự thật đến tàn nhẫn, nhưng vẫn phải đón nhận thôi! Cho dù Phương buồn hay người buồn thì cũng chỉ là chuỗi mông mênh ngày tháng, những thất thường của của nội tâm trong thoáng chốc rồi cũng hòa theo con nước vô tình, trôi mù khơi phiêu lãng. Giọt sầu cũng chẳng thể nào thay đổi được duyên phận, thôi thì cứ hát vang lên một lần cho sảng khoái rồi chia tay vĩnh viễn hay hơn.
Nhưng nào đâu phải thế, cái ngạo nghễ vốn có trong người nó chỉ quay về trong nhất thời mà thôi. Trong cuộc đời này ái tình là cái khiến con người ta đau khổ nhất, Phương cũng không ngoại lệ được. Sau những lúc hào sảng và cuồng ngạo của giống nòi thi sĩ, thì Phương lại về với chính thực hồn mình, lắng đọng những dòng cảm xúc phân ly qua từng tiếng nghẹn ngào, chua xót:
Cây vườn ta vẫn rụng trái tình không
Những hoa trắng tay hồng em ve vuốt
Sưởi hương lòng mỗi tối mùa đông.
Còn gì không, hỡi chiều tắt nắng
Mắt của em, ta chưa uống đã nồng
Thì nói chi những ngày mưa tới
Ta một mình chuốc rượu với mênh mông!”
Ta sẽ dâng mười sáu sợi dây lòng
Để em gảy khúc tình ca huyền ảo
Trăng phương Đông sáng lại giữa đêm hồng.”
(Xin lại)
Từ đó Phương đi về với đôi vầng nhật nguyệt, bắt đầu những vần thơ thống thiết, bi ai…sau này khi nhìn lại thơ Phương, là chứa đựng những hình ảnh từ những mộc mạc đơn sơ của đứa bé bán vé số, em bé vùng cao mang cũi ra chợ hay người phu xe…và cho đến khi báo hiệu một chuỗi hành trình kết thúc cõi tạm, trong Phương đều phảng phất một nỗi cô đơn tận cùng.
Chúng ta nếu đã một lần đồng cảm với những vần thơ của Phương, thì cũng chẳng ngại ngần gì mà không dành tặng cho một lời hoan thưởng. Với tôi xin được một lần nghiêng mình trước trước anh, một con người tài hoa đất Thần Kinh mà bạc phận, cô đơn.
lanhdien
Vắng khách đôi khi về chở gió
Không tiền, không bạc vẫn cười vang
Dừng lại bên cầu nghe nước chảy
Chợt thấy mình: một giọt nước Hương Giang.